Bài của Nguyễn Tuấn Hoa (Viện KHCN Việt Nam), đăng trên PC World series B, 1/2008
--
“Chính phủ điện tử” (CPĐT), “thương mại điện tử” (TMĐT), “học tập điện tử”... là những khái niệm tạm thời và sẽ hoàn thành sứ mệnh khi mọi phương thức tổ chức thông tin được chuyển sang số hóa.
“Công nghệ thông tin” (CNTT) và những kết quả từ việc ứng dụng nó như “chính phủ điện tử” (e-government), “thương mại điện tử” (e-commerce), “học tập điện tử” (e-learning)... là những khái niệm tạm thời, chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định chứ không trường tồn như khái niệm “thông tin”. CNTT là công nghệ chuyển đổi phương thức tổ chức thông tin tương tự (analog) sang thông tin số (digital). Nó sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình khi quá trình này kết thúc. Các hệ quả của nó còn có tuổi thọ ngắn hơn.
Khi quá trình điện tử hóa (thực chất là số hóa) các hoạt động thông tin của bộ máy chính quyền được hoàn tất thì khái niệm “chính phủ điện tử” sẽ không còn ai nhắc đến nữa. Tương tự, khi toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh đã được “nhúng” trong môi trường thông tin điện tử hay nói cách khác khi tất cả mọi việc tiếp thị, đặt hàng, mua bán, thanh toán... đều diễn ra trên mạng máy tính một cách tự nhiên và tất yếu phải như thế thì cụm từ “thương mại điện tử” sẽ rơi vào lãng quên. Đối với giáo dục cũng vậy, khi học sinh tra cứu, tìm kiếm tri thức trên mạng máy tính là chính, khi giảng viên trở thành người hướng dẫn các em tiếp thu kiến thức và khám phá thế giới cũng bằng các phương tiện điện tử như một lẽ đương nhiên thì khái niệm “giáo dục điện tử” chỉ còn được sử dụng trong thì quá khứ. Sự mới mẻ, lạ lẫm chỉ tồn tại ở vào thời kỳ đầu. Khi đã sống thật sự trong một thế giới số thì không ai còn nói đến “thế giới số” nữa.
Nước ta đang bước những bước đầu tiên trong quá trình số hóa ở quy mô toàn xã hội. Ở thời điểm này, tất cả các khái niệm như CPĐT, TMĐT... đều còn mới mẻ, xa lạ, thậm chí khó hiểu. Sự phức tạp còn tăng thêm khi chúng ta phải gắn quá trình điện tử hóa đó với những hệ thống có điểm xuất phát thấp về trình độ tổ chức và xử lý thông tin. Những nước phát triển đã khởi đầu quá trình số hóa từ thập niên 60 của thế kỷ trước và đến thập niên 90 họ gần như đã đạt đến mức tương đối hoàn thiện. Đến năm 1993 họ đã thực hiện mô hình “văn phòng không giấy tờ”, năm 1995 triển khai TMĐT, năm 1998 là CPĐT, còn hiện nay là e-Logistics. Với công nghệ nano, CNTT và truyền thông còn có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa và vì thế kéo theo sự phát triển đột biến của nhiều lĩnh vực.
Vì vậy, con đường đi tắt chính là việc nhanh chóng triển khai thành công các ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động của xã hội. Tuy nhiên, con đường đi tắt này lại đòi hỏi một nỗ lực phi thường chứ không phải chỉ là những ứng dụng CNTT thuần túy. Nỗ lực đó thể hiện ở việc “nhìn thấy” đích đến và biết cách đi đến đích trong điều kiện đặc thù của nước ta hiện nay. Nếu triển khai ứng dụng CNTT một cách máy móc và không hiểu rõ các đặc thù ấy thì không những không đi tắt được tí nào mà còn đi lùi.
Thực tiễn cho thấy CNTT sẽ tìm thấy “đất dụng võ” ở những nơi mà nhu cầu phát triển để tồn tại trở nên bức xúc. Chỉ mới 10 năm trôi qua kể từ ngày nước ta chính thức mở cổng Internet, không một tòa soạn báo nào còn có thể ngồi yên nếu không có báo điện tử trong tay; không một thư viện nào muốn vắng bạn đọc vì thiếu thư viện điện tử; không đại học nào chiêu sinh mà không nói rõ trang bị hạ tầng kỹ thuật và năng lực kết nối Internet của mình; cũng không còn một tỉnh, thành phố nào chưa có website; không một doanh nghiệp (DN) nào muốn tụt hậu vì không biết sử dụng email...
Chỉ vài năm nữa, đến 2010, bất cứ một tổ chức nào (trường học, DN, đơn vị, đoàn thể, hiệp hội, câu lạc bộ...) chưa có website cũng sẽ bị chê là lạc hậu. Trong vài năm tới, nơi CNTT phát huy mạnh mẽ nhất và mang lại hiệu quả nhãn tiền nhất sẽ là lĩnh vực kinh tế. Khi gia nhập WTO, để nền kinh tế Việt Nam hội nhập được với thị trường khu vực và quốc tế, cách duy nhất là phải nâng cao bằng được năng lực cạnh tranh của các DN mà yếu tố tạo ra sức cạnh tranh quan trọng nhất là năng lực kết nối và xử lý thông tin. Đối với DN, việc ứng dụng CNTT không gặp một trở ngại nào đáng kể vì nó mang lại những lợi ích thiết thực cho DN. Vấn đề chỉ là đầu tư như thế nào cho tối ưu đối với từng DN mà thôi.
24.1.08
CNTT và con đường đi tắt
Chuyên mục:
Hành chính điện tử,
Thương mại điện tử,
Tổ chức/doanh nghiệp số
11.12.07
"Đề án" và "chương trình"
Các bác báo Tuổi Trẻ không tìm hiểu kỹ, coi "chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010" là một đề án.
Ở đâu không biết, chứ trong trường hợp này thì chương trình là chương trình, đề án là đề án. Không có cái gọi là "đề án chương trình".
Tinh thần của chương trình này (vẫn đang soạn thảo) khác hoàn toàn so với đề án 112. Theo chương trình này, sẽ không có một cục vốn chung nào, cũng không có ban điều hành nào phân bổ vốn, triển khai ứng dụng và cầm tay chỉ việc cho các ngành và địa phương. Các ngành và địa phương phải tự lo lấy vốn, tự triển khai lấy, và người đứng đầu ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT trong cơ quan, đơn vị mình.
Nói cách khác, hồi còn 112 thì có một ban điều hành chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT cho các nơi. Còn theo chương trình mới thì các nơi phải tự chịu lấy trách nhiệm ứng dụng CNTT của mình.
Bộ 4T chỉ muốn nhận vai trò thiết kế kiến trúc tổng thể, đưa ra các chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, tạo hành lang pháp lý...
Ở đâu không biết, chứ trong trường hợp này thì chương trình là chương trình, đề án là đề án. Không có cái gọi là "đề án chương trình".
Tinh thần của chương trình này (vẫn đang soạn thảo) khác hoàn toàn so với đề án 112. Theo chương trình này, sẽ không có một cục vốn chung nào, cũng không có ban điều hành nào phân bổ vốn, triển khai ứng dụng và cầm tay chỉ việc cho các ngành và địa phương. Các ngành và địa phương phải tự lo lấy vốn, tự triển khai lấy, và người đứng đầu ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT trong cơ quan, đơn vị mình.
Nói cách khác, hồi còn 112 thì có một ban điều hành chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT cho các nơi. Còn theo chương trình mới thì các nơi phải tự chịu lấy trách nhiệm ứng dụng CNTT của mình.
Bộ 4T chỉ muốn nhận vai trò thiết kế kiến trúc tổng thể, đưa ra các chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, tạo hành lang pháp lý...
7.12.07
Blog - phương tiện truyền thông của tôi
Thay vì lo lắng cho công dân như lo cho những cơ thể non yếu, thiếu sức đề kháng, phải che chắn, bao bọc trước các luồng thông tin khác nhau, chủ thể quản lý cần khuyến khích và giúp công dân trở nên khỏe mạnh, biết cách kiểm chứng, đối chiếu các nguồn thông tin...
Nhầm lẫn về khái niệm
Đúng là chúng ta có dùng blog để đăng nhật ký, hoặc có thể blog ra đời từ mục đích viết nhật ký, nhưng nếu vì thế mà coi blog là một dạng nhật ký thì có sự không rạch ròi giữa phương tiện biểu hiện và nội dung biểu hiện.
Blog là một phương tiện, giống như một tập giấy hay một cuốn sổ trắng (chưa có nội dung). Nếu tôi dùng cuốn sổ đó để viết nhật ký, nó sẽ là sổ nhật ký; dùng để chép bài hát, nó sẽ là sổ bài hát; dùng để lập kế hoạch, nó sẽ là sổ kế hoạch; dùng để ghi bài học, giải bài tập, đó sẽ là sổ học tập... Dùng sổ làm gì là quyền của tôi. Không ai có thể bắt tôi phải dùng nó như một cuốn nhật ký.
Blog cũng thế, tôi có thể dùng cho rất nhiều mục đích khác nhau, như sưu tầm, lưu trữ tư liệu; thảo luận, trao đổi ý tưởng; vận động làm một nhiệm vụ gì đó (như làm từ thiện); học tập, giảng dạy; kinh doanh, tiếp thị; đăng tải các tác phẩm văn học nghệ thuật; giao lưu, kết bạn; đưa tin và bình luận về mọi lĩnh vực trong cuộc sống... Đó chính là những gì đang diễn ra trong thực tế. Không nên ngạc nhiên hay bức xúc khi thấy có những blog không phải là nhật ký cá nhân.
Có điều khác ở chỗ, blog là một cuốn sổ công nghệ cao, có thể bày ra trên mạng toàn cầu cho bất cứ ai vào đọc, xem, nghe, ghi chép cảm tưởng, bình luận, bàn bạc, trao đổi. “Cuốn sổ” đó cũng không nằm một mình, mà liên kết với nhiều “cuốn sổ” khác, và những cuốn cùng của một nhà cung cấp thì dễ dàng kết dính với nhau thành cộng đồng. Những đặc tính đó của blog tạo nên khả năng tương tác và mời gọi tương tác đa chiều mạnh mẽ.
Vì thế, trong rất nhiều trường hợp, blog đã trở thành một phương tiện truyền thông, do các cá nhân nắm giữ, là tiếng nói của các cá nhân (hoặc những nhóm nhỏ, tổ chức, doanh nghiệp). Phương tiện truyền thông này có thể bổ sung, tương tác, cũng có thể cạnh tranh với truyền thông đại chúng trong việc đưa tin và bình luận. Có những blog đã lôi cuốn được nhiều bạn đọc, tạo ra hiệu quả truyền thông đáng kể. Nếu chưa quen với việc một cá nhân cũng có thể tự tạo cho mình một phương tiện truyền thông và đưa tiếng nói của mình lan tỏa rộng khắp, sẽ dễ nghĩ đến việc hạn chế blog phát triển.
Nhầm lẫn đối tượng quản lý
Blog là một ứng dụng thông thường trên Internet, do các công ty cung cấp cho khách hàng của mình, không phải là công cụ của nhà nước, nên nhà nước không thể trực tiếp quản lý được. Cách nói “quản lý blog”, theo tôi, cũng là hệ quả của sự không phân biệt rạch ròi giữa phương tiện và nội dung được biểu đạt bằng phương tiện đó. Nói nhà nước “quản lý blog” cũng giống như nói nhà nước quản lý sổ sách hay giấy bút của công dân.
Trên thực tế, nhà nước không cần và không thể quản lý giấy bút, sổ ghi chép (phương tiện) của công dân, nhưng có thể can thiệp nếu công dân viết lên giấy, lên sổ những nội dung vi phạm pháp luật rồi mang truyền bá cho người khác. Công dân cũng có thể bị kiện nếu truyền bá trên giấy, trên sổ hay trên bất cứ phương tiện nào những điều xúc phạm, bôi nhọ, quấy rối người khác và có thể bị toà án xử theo các quy định của pháp luật.
Nếu công dân truyền bá những điều có hại mà chưa đến mức phải xử lý theo pháp luật, thì có thể sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Tất cả các cộng đồng, kể cả cộng đồng blog cũng đều có sự “điều chỉnh mềm” dựa theo những quy tắc hành xử được đa số công nhận, hoặc những giá trị mà cộng đồng đó xem là chuẩn mực. Trong trường hợp có những chuẩn mực cũ không còn phù hợp, gây ra tranh luận, thì chính blog sẽ là phương tiện chuyển tải những ý kiến đa chiều, qua đó tích cực góp phần hình thành những chuẩn mực mới.
Như vậy, việc đặt ra những quy định mới về blog có lẽ là không cần thiết, vì hoàn toàn có thể sử dụng quy định trong các luật, bộ luật và văn bản hướng dẫn sẵn có. Còn việc xác định nội dung blog nào đó có vi phạm pháp luật hay không, chứng minh điều đó như thế nào, làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ như thế nào để có chứng cứ... là việc của cơ quan quản lý. Có thể sẽ khó, nhưng không nên vì thế mà làm cái việc kỳ cục và không khả thi là quản lý blog (theo kiểu bắt buộc phải đăng ký với nhà nước). Không có nước nào làm như vậy cả. Các nước như Trung Quốc, Singapore, Malaysia đều đã phải bỏ dự định bắt buộc người dùng blog phải đăng ký tên thật.
Sức đề kháng của công dân
Vừa qua, chúng ta đã bàn nhiều về đối tượng quản lý mà ít đề cập đến chủ thể quản lý. Tôi cho rằng các nhà quản lý cũng phải tự đổi mới cách nghĩ để chấp nhận việc mỗi công dân giờ đây đều có phương tiện truyền thông riêng của mình, lúc nào cũng có thể cất lên tiếng nói của mình trên phạm vi toàn cầu, và những tiếng nói ấy dĩ nhiên không cùng một giọng, mà có thể có sự khác biệt. Sự phong phú, đa chiều của các nguồn thông tin chính là yếu tố quan trọng làm cân bằng môi trường thông tin.
Thay vì lo lắng cho công dân như lo cho những cơ thể non yếu, thiếu sức đề kháng, phải che chắn, bao bọc trước các luồng thông tin khác nhau, chủ thể quản lý cần khuyến khích và giúp công dân trở nên khỏe mạnh, biết cách kiểm chứng, đối chiếu các nguồn tin, độc lập trong suy nghĩ, độc lập trong tiếp nhận thông tin.
Những bước tiến của thời đại thông tin sẽ còn tiếp tục. Sẽ có những thế hệ công nghệ mới ra đời, công dân sẽ được trao những phương tiện mạnh mẽ hơn bây giờ. Vì thế, nếu tư duy quản lý không thay đổi, nó sẽ bị thực tế phát triển bỏ xa.
--
Bài đã đăng trên PC World VN series B, số tháng 12/2007
Nhầm lẫn về khái niệm
Đúng là chúng ta có dùng blog để đăng nhật ký, hoặc có thể blog ra đời từ mục đích viết nhật ký, nhưng nếu vì thế mà coi blog là một dạng nhật ký thì có sự không rạch ròi giữa phương tiện biểu hiện và nội dung biểu hiện.
Blog là một phương tiện, giống như một tập giấy hay một cuốn sổ trắng (chưa có nội dung). Nếu tôi dùng cuốn sổ đó để viết nhật ký, nó sẽ là sổ nhật ký; dùng để chép bài hát, nó sẽ là sổ bài hát; dùng để lập kế hoạch, nó sẽ là sổ kế hoạch; dùng để ghi bài học, giải bài tập, đó sẽ là sổ học tập... Dùng sổ làm gì là quyền của tôi. Không ai có thể bắt tôi phải dùng nó như một cuốn nhật ký.
Blog cũng thế, tôi có thể dùng cho rất nhiều mục đích khác nhau, như sưu tầm, lưu trữ tư liệu; thảo luận, trao đổi ý tưởng; vận động làm một nhiệm vụ gì đó (như làm từ thiện); học tập, giảng dạy; kinh doanh, tiếp thị; đăng tải các tác phẩm văn học nghệ thuật; giao lưu, kết bạn; đưa tin và bình luận về mọi lĩnh vực trong cuộc sống... Đó chính là những gì đang diễn ra trong thực tế. Không nên ngạc nhiên hay bức xúc khi thấy có những blog không phải là nhật ký cá nhân.
Có điều khác ở chỗ, blog là một cuốn sổ công nghệ cao, có thể bày ra trên mạng toàn cầu cho bất cứ ai vào đọc, xem, nghe, ghi chép cảm tưởng, bình luận, bàn bạc, trao đổi. “Cuốn sổ” đó cũng không nằm một mình, mà liên kết với nhiều “cuốn sổ” khác, và những cuốn cùng của một nhà cung cấp thì dễ dàng kết dính với nhau thành cộng đồng. Những đặc tính đó của blog tạo nên khả năng tương tác và mời gọi tương tác đa chiều mạnh mẽ.
Vì thế, trong rất nhiều trường hợp, blog đã trở thành một phương tiện truyền thông, do các cá nhân nắm giữ, là tiếng nói của các cá nhân (hoặc những nhóm nhỏ, tổ chức, doanh nghiệp). Phương tiện truyền thông này có thể bổ sung, tương tác, cũng có thể cạnh tranh với truyền thông đại chúng trong việc đưa tin và bình luận. Có những blog đã lôi cuốn được nhiều bạn đọc, tạo ra hiệu quả truyền thông đáng kể. Nếu chưa quen với việc một cá nhân cũng có thể tự tạo cho mình một phương tiện truyền thông và đưa tiếng nói của mình lan tỏa rộng khắp, sẽ dễ nghĩ đến việc hạn chế blog phát triển.
Nhầm lẫn đối tượng quản lý
Blog là một ứng dụng thông thường trên Internet, do các công ty cung cấp cho khách hàng của mình, không phải là công cụ của nhà nước, nên nhà nước không thể trực tiếp quản lý được. Cách nói “quản lý blog”, theo tôi, cũng là hệ quả của sự không phân biệt rạch ròi giữa phương tiện và nội dung được biểu đạt bằng phương tiện đó. Nói nhà nước “quản lý blog” cũng giống như nói nhà nước quản lý sổ sách hay giấy bút của công dân.
Trên thực tế, nhà nước không cần và không thể quản lý giấy bút, sổ ghi chép (phương tiện) của công dân, nhưng có thể can thiệp nếu công dân viết lên giấy, lên sổ những nội dung vi phạm pháp luật rồi mang truyền bá cho người khác. Công dân cũng có thể bị kiện nếu truyền bá trên giấy, trên sổ hay trên bất cứ phương tiện nào những điều xúc phạm, bôi nhọ, quấy rối người khác và có thể bị toà án xử theo các quy định của pháp luật.
Nếu công dân truyền bá những điều có hại mà chưa đến mức phải xử lý theo pháp luật, thì có thể sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Tất cả các cộng đồng, kể cả cộng đồng blog cũng đều có sự “điều chỉnh mềm” dựa theo những quy tắc hành xử được đa số công nhận, hoặc những giá trị mà cộng đồng đó xem là chuẩn mực. Trong trường hợp có những chuẩn mực cũ không còn phù hợp, gây ra tranh luận, thì chính blog sẽ là phương tiện chuyển tải những ý kiến đa chiều, qua đó tích cực góp phần hình thành những chuẩn mực mới.
Như vậy, việc đặt ra những quy định mới về blog có lẽ là không cần thiết, vì hoàn toàn có thể sử dụng quy định trong các luật, bộ luật và văn bản hướng dẫn sẵn có. Còn việc xác định nội dung blog nào đó có vi phạm pháp luật hay không, chứng minh điều đó như thế nào, làm việc với các nhà cung cấp dịch vụ như thế nào để có chứng cứ... là việc của cơ quan quản lý. Có thể sẽ khó, nhưng không nên vì thế mà làm cái việc kỳ cục và không khả thi là quản lý blog (theo kiểu bắt buộc phải đăng ký với nhà nước). Không có nước nào làm như vậy cả. Các nước như Trung Quốc, Singapore, Malaysia đều đã phải bỏ dự định bắt buộc người dùng blog phải đăng ký tên thật.
Sức đề kháng của công dân
Vừa qua, chúng ta đã bàn nhiều về đối tượng quản lý mà ít đề cập đến chủ thể quản lý. Tôi cho rằng các nhà quản lý cũng phải tự đổi mới cách nghĩ để chấp nhận việc mỗi công dân giờ đây đều có phương tiện truyền thông riêng của mình, lúc nào cũng có thể cất lên tiếng nói của mình trên phạm vi toàn cầu, và những tiếng nói ấy dĩ nhiên không cùng một giọng, mà có thể có sự khác biệt. Sự phong phú, đa chiều của các nguồn thông tin chính là yếu tố quan trọng làm cân bằng môi trường thông tin.
Thay vì lo lắng cho công dân như lo cho những cơ thể non yếu, thiếu sức đề kháng, phải che chắn, bao bọc trước các luồng thông tin khác nhau, chủ thể quản lý cần khuyến khích và giúp công dân trở nên khỏe mạnh, biết cách kiểm chứng, đối chiếu các nguồn tin, độc lập trong suy nghĩ, độc lập trong tiếp nhận thông tin.
Những bước tiến của thời đại thông tin sẽ còn tiếp tục. Sẽ có những thế hệ công nghệ mới ra đời, công dân sẽ được trao những phương tiện mạnh mẽ hơn bây giờ. Vì thế, nếu tư duy quản lý không thay đổi, nó sẽ bị thực tế phát triển bỏ xa.
--
Bài đã đăng trên PC World VN series B, số tháng 12/2007
6.12.07
Số hóa không chỉ là số hóa
Bác Phan Xuân Trung quảng cáo cho giải pháp bệnh án điện tử YKHOA.NET của mình ngộ phết:
Nguồn: http://www.htmedsoft.com/binhluan/sohoatailieu.htm
Trang bị phần mềm cho bệnh viện để làm gì? Để chuyển các thông tin dưới dạng giấy tờ sang dạng số hóa, từ đó dễ dàng thống kê, truy tìm, báo cáo...
Đúng, nhưng chưa đủ. Điện toán hóa bệnh viện, không phải chỉ chuyển các tài liệu giấy tờ sang dạng số mà còn có những công dụng khác. Khi ứng dụng CNTT vào y khoa, phải ứng dụng thật sự có giá trị.
- Làm nhanh công việc: bác sĩ muốn ra toa thuốc từ máy vi tính để in cho đẹp, rõ ràng, nhưng khổ nỗi, gõ tên thuốc lâu quá. Làm sai để cho BS chỉ cần 1 cú Click là xong cái toa. (Sản phẩm của MEDSOFT làm được điều này, các phần mềm khác không có)
- Hỗ trợ công việc: Bác sĩ vô ý ghi 2 tên thuốc tương kỵ, uống chung có thể chết. Software phải giúp nhắc nhở BS điều này. (YKHOA.NET Total có khả năng này, các phần mềm khác không có).
- Sao chép chính xác: dược sĩ sao tên thuốc sai sẽ dẫn đến cấp nhầm thuốc, vậy là chết bệnh nhân. Toa thuốc của BS phải chuyển thẳng vào máy tính của dược sĩ và dược sĩ cứ theo đó mà cấp thuốc. Không hề có nhầm lẫn. (tính năng này có tại YKHOA.NET Total)
- Bác sĩ phải biết toa thuốc mình ghi cho bệnh nhân giá tiền là bao nhiêu. Toa thuốc không phù hợp hoàn cảnh bệnh nhân sẽ không phát huy hết tác dụng. (YKHOA.NET Total giúp bác sĩ biết tổng số tiền của toa thuốc ngay khi kê đơn)
- Bác sĩ chuyên khoa mạnh ai nấy biết. Biết kiểu này chẳng khác nào 5 anh mù sờ voi. Bác sĩ, dù là ở vị trí nào, cũng phải biết rõ về bệnh nhân thông qua tài liệu bệnh án. (YKHOA.NET giúp BS xem chung hồ sơ trên mạng, cùng có kiến thức về bệnh nhân như nhau)
- ... còn nữa
Số hóa không chỉ là số hóa.
Nguồn: http://www.htmedsoft.com/binhluan/sohoatailieu.htm
3.12.07
10 năm cửa mình mở ra...
Chưa đi chưa biết Quảng Ninh
Đi rồi mới biết cửa mình mở ra (*)
Xuất thô thì khỏi kiểm tra
Xuất tinh thì phải xuất qua cửa mình (**)
(*): Cửa khẩu mở ra cho tàu bè hàng hóa ra vào
(**) Xuất khẩu hàng hóa
Đây là một bài thơ dân gian, nhại Bút Tre. Entry chỉ này mượn nó thay miếng trầu làm đầu một câu chuyện khác.
19/11/1997 là ngày Việt Nam chính thức kết nối mạng toàn cầu. Một số báo và nhân vật quan trọng của sự kiện đã gọi đó là ngày “mở Internet”. Nghe hay nhỉ. Đưa Internet vào (hay kết nối Internet) sao lại gọi là mở? À thì, có một cánh cửa, trong tư duy quản lý lúc đó.
Các anh các chị bây giờ sướng, tới cơ quan bật máy lên là có ngay net xài, về nhà thì có ADLS giá rẻ của FPT, Viettel, VNN. Net đứt một tí là bứt rứt không yên, là hợp đồng đình lại, là lo thế giới không biết mình đang làm gì ở đâu, là không nắm được tình hình ăn ngủ của bạn gái bên kia bờ đại dương thế nào…
Thế mà cách đây 10 năm, vấn đề có đưa Internet vào hay không gây ra cả một “cuộc vật lộn” trong tư duy. Các bác lãnh đạo thấy Internet thì cũng thích, nhưng còn phải “vật lộn” vì lo cái mặt trái. Rồi cái anh tư duy mới thắng thế cho nên net mới được vào, mới tạo ra những đổi thay đáng kinh ngạc.
Bây giờ nhìn lại, ai cũng bảo đấy là quyết định đúng. Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh còn nói “nếu để chậm thêm một số năm nữa thì sẽ thiệt hại biết chừng nào cho sự phát triển”.
Mình được tiếp xúc với Internet lần đầu vào năm 1998, ké thôi. Lúc đó hoàn toàn không biết gì đến cái sự vật lộn kia, cũng chả có ý thức gì về lợi ích của Internet. Thấy thằng bạn biểu diễn chat với gái ở Pháp, lòng thầm kinh.
Hồi đấy chưa biết đến Google, nhưng một trong những từ khóa đầu tiên dẫn dắt mình lang thang trên mạng là từ “sex”. Bây giờ có bác hỏi sao Việt Nam lại có nhiều người tìm kiếm từ “sex”; từ bụng mình mà suy, thấy có một lý do mà ít người để ý, là những người mới tiếp xúc với net thì hay tìm kiếm những gì liên quan tới sex. Cái thuộc bản năng mà bị cấm kỵ bao giờ chả gây tò mò, đến khi có điều kiện thì tìm tòi, tí toáy, chả liên quan gì đến chất lượng đạo đức như có bác lo. Việt Nam gần đây có số thuê bao Internet mới tăng trưởng mạnh vào loại nhất thế giới, nên tìm kiếm sex nhiều là phải thôi. Tất nhiên có nhiều nguyên nhân khác nữa mà các bác đã phân tích rồi.
Qua cái đận tò mò ban đầu, mới thấy Internet quả là rộng lớn và có rất nhiều điều giúp mở mắt ra. Thế là các từ liên quan đến “sex” đã rơi xuống tận thứ bao nhiêu không biết nữa trong danh sách các từ khóa của mình. Hỏi bạn bè thì đa phần cũng thế. À, ra nhu cầu trên Internet của người ta cũng chẳng thoát ra ngoài tháp Maslow, cũng bắt đầu từ bậc bét là các nhu cầu về sinh lý rồi mới đến các nhu cầu cao hơn.
Vậy nên mong các bác đừng bức xúc khi thấy giới trẻ Việt Nam ham tìm sex hơn các thứ khác. Còn nếu đã bức xúc thì cũng bức xúc luôn cả với các bác lớn tuổi nữa. Em biết nhiều bác đã lớn tuổi, lãnh đạo hẳn hoi, nhưng hồi mới có máy tính nối mạng cũng ham mò vào tìm sex lắm. Đến khi màn hình dính đầy hình porn không gỡ ra được mới cầu cứu đến bọn trẻ. Lúc đấy các bác vẫn đạo đức ra mặt: “Chú có làm gì đâu. Mấy cái của nợ này ở đâu nó chui vào máy chú”. He he, các bác không mò vào mấy trang sex thì lấy đâu nó cài virus với ad-ware vào máy mình thế được. Với lại IE nó nhớ những địa chỉ các bác từng vào mà.
Trở lại chuyện 10 năm cửa Internet mình mở ra, qua thời gian, ai cũng thấy là đúng đắn. Bây giờ, câu hỏi mở hay không lại tiếp tục đặt ra với nhiều vấn đề khác, tranh cãi lằng nhằng. Thử dừng ở sự kiện 10 năm Internet mà nhìn tới nhìn lui, có thể 5-10 năm nữa, những lý lẽ níu kéo bây giờ lại trở nên ấu trĩ.
Đi rồi mới biết cửa mình mở ra (*)
Xuất thô thì khỏi kiểm tra
Xuất tinh thì phải xuất qua cửa mình (**)
(*): Cửa khẩu mở ra cho tàu bè hàng hóa ra vào
(**) Xuất khẩu hàng hóa
Đây là một bài thơ dân gian, nhại Bút Tre. Entry chỉ này mượn nó thay miếng trầu làm đầu một câu chuyện khác.
19/11/1997 là ngày Việt Nam chính thức kết nối mạng toàn cầu. Một số báo và nhân vật quan trọng của sự kiện đã gọi đó là ngày “mở Internet”. Nghe hay nhỉ. Đưa Internet vào (hay kết nối Internet) sao lại gọi là mở? À thì, có một cánh cửa, trong tư duy quản lý lúc đó.
Các anh các chị bây giờ sướng, tới cơ quan bật máy lên là có ngay net xài, về nhà thì có ADLS giá rẻ của FPT, Viettel, VNN. Net đứt một tí là bứt rứt không yên, là hợp đồng đình lại, là lo thế giới không biết mình đang làm gì ở đâu, là không nắm được tình hình ăn ngủ của bạn gái bên kia bờ đại dương thế nào…
Thế mà cách đây 10 năm, vấn đề có đưa Internet vào hay không gây ra cả một “cuộc vật lộn” trong tư duy. Các bác lãnh đạo thấy Internet thì cũng thích, nhưng còn phải “vật lộn” vì lo cái mặt trái. Rồi cái anh tư duy mới thắng thế cho nên net mới được vào, mới tạo ra những đổi thay đáng kinh ngạc.
Bây giờ nhìn lại, ai cũng bảo đấy là quyết định đúng. Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh còn nói “nếu để chậm thêm một số năm nữa thì sẽ thiệt hại biết chừng nào cho sự phát triển”.
Mình được tiếp xúc với Internet lần đầu vào năm 1998, ké thôi. Lúc đó hoàn toàn không biết gì đến cái sự vật lộn kia, cũng chả có ý thức gì về lợi ích của Internet. Thấy thằng bạn biểu diễn chat với gái ở Pháp, lòng thầm kinh.
Hồi đấy chưa biết đến Google, nhưng một trong những từ khóa đầu tiên dẫn dắt mình lang thang trên mạng là từ “sex”. Bây giờ có bác hỏi sao Việt Nam lại có nhiều người tìm kiếm từ “sex”; từ bụng mình mà suy, thấy có một lý do mà ít người để ý, là những người mới tiếp xúc với net thì hay tìm kiếm những gì liên quan tới sex. Cái thuộc bản năng mà bị cấm kỵ bao giờ chả gây tò mò, đến khi có điều kiện thì tìm tòi, tí toáy, chả liên quan gì đến chất lượng đạo đức như có bác lo. Việt Nam gần đây có số thuê bao Internet mới tăng trưởng mạnh vào loại nhất thế giới, nên tìm kiếm sex nhiều là phải thôi. Tất nhiên có nhiều nguyên nhân khác nữa mà các bác đã phân tích rồi.
Qua cái đận tò mò ban đầu, mới thấy Internet quả là rộng lớn và có rất nhiều điều giúp mở mắt ra. Thế là các từ liên quan đến “sex” đã rơi xuống tận thứ bao nhiêu không biết nữa trong danh sách các từ khóa của mình. Hỏi bạn bè thì đa phần cũng thế. À, ra nhu cầu trên Internet của người ta cũng chẳng thoát ra ngoài tháp Maslow, cũng bắt đầu từ bậc bét là các nhu cầu về sinh lý rồi mới đến các nhu cầu cao hơn.
Vậy nên mong các bác đừng bức xúc khi thấy giới trẻ Việt Nam ham tìm sex hơn các thứ khác. Còn nếu đã bức xúc thì cũng bức xúc luôn cả với các bác lớn tuổi nữa. Em biết nhiều bác đã lớn tuổi, lãnh đạo hẳn hoi, nhưng hồi mới có máy tính nối mạng cũng ham mò vào tìm sex lắm. Đến khi màn hình dính đầy hình porn không gỡ ra được mới cầu cứu đến bọn trẻ. Lúc đấy các bác vẫn đạo đức ra mặt: “Chú có làm gì đâu. Mấy cái của nợ này ở đâu nó chui vào máy chú”. He he, các bác không mò vào mấy trang sex thì lấy đâu nó cài virus với ad-ware vào máy mình thế được. Với lại IE nó nhớ những địa chỉ các bác từng vào mà.
Trở lại chuyện 10 năm cửa Internet mình mở ra, qua thời gian, ai cũng thấy là đúng đắn. Bây giờ, câu hỏi mở hay không lại tiếp tục đặt ra với nhiều vấn đề khác, tranh cãi lằng nhằng. Thử dừng ở sự kiện 10 năm Internet mà nhìn tới nhìn lui, có thể 5-10 năm nữa, những lý lẽ níu kéo bây giờ lại trở nên ấu trĩ.
27.11.07
"Chẩn bệnh" giới báo chí Việt
Báo chí đã “chẩn bệnh” giới blogger Việt nhiều rồi. Nói chung là có một bộ phận các blogger như cây non, cỏ dại, như những con sâu làm rầu nồi canh, cần phải dọn dẹp, hoặc phải dìu dắt, uốn nắn nhằm khơi dậy thiện căn tiềm ẩn, mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội.
Giờ thử xem giới blogger chẩn ngược lại, xem bệnh của một bộ phận báo chí Việt thế nào. Những "bệnh" và "triệu chứng" liệt kê dưới đây đã được đề cập lẻ tẻ trong nhiều bài của các blogger khác nhau. Em chỉ sơ sơ gom lại mấy bệnh vặt và diễn đạt lại tí thôi.
Bệnh 1: Đạo đức đầy mình
Triệu chứng:
+ Không nói ra thì không ai biết mình trong ngọc trắng ngà, ngời ngời đạo đức. Viết phóng sự về gái mại dâm thể nào cũng có đoạn cô điếm cởi quần áo, nhưng tôi ngăn lại, cả đêm tôi không làm gì, tôi chỉ nói chuyện với cô, đầy tình thương mến thương… Có bác còn đạo đức đến nỗi khi cô điếm xồ đến thì sợ chạy ra khỏi phòng (ngoài trời kiểu gì cũng có gió lạnh hoặc mưa giăng).
+ Sau khi mô tả kỹ càng các vụ cướp, hiếp, giết, bội tình, đánh ghen… là đến phần (thu hoạch) bài học về đạo đức. Người đọc đôi khi có cảm giác mình như nhỏ lại, trở về thời bé bỏng ấu thơ, được bố xoa đầu ôn tồn bảo ban (nhớ chưa, con không được thế).
Bệnh 2: Thầy thiên hạ
Triệu chứng: Cái gì cũng biết, cái gì cũng thông, vấn đề nào cũng có giải pháp. Phóng viên mới ra trường, chẳng học, đọc, nghiên cứu nghiên kiếc gì, nhưng chỉ ngồi một lúc là có thể nặn ra các giải pháp từ vi mô đến vĩ mô cho mọi vấn đề. Sau giải pháp thường kèm theo câu kết đại loại: Có như vậy mới cải thiện được tình hình, có như vậy giao thông mới hết ùn tắc, mới quản lý được gái mại dâm, kinh tế mới phát triển, giáo dục mới hiệu quả…
Bệnh 3: Chế biến dư luận
Triệu chứng:
+ Khi phản bác ai, phản đối chuyện gì mà lập luận chưa thuyết phục thì mượn mồm dư luận… Dư luận là ý kiến của số đông, nhưng ở đây là ông ba bị. Thích thì cho “dư luận không đồng tình”, thích thì cho “dư luận bức xúc”, không cần biết đấy có phải ý kiến số đông hay không. Ý mình sờ sờ ra nhưng lại bảo đấy là dư luận nói.
+ Chọn lọc (hoặc tạo ra?) ý kiến bạn đọc giống với ý của mình rồi đăng lên, coi đấy là dư luận.
Bệnh 4: Chân lý trong tay ta
(thường đi cùng với bệnh chế biến dư luận)
Triệu chứng: Kiểu gì thì ta cũng vẫn đúng. Không bao giờ có chuyện ta sai, chỉ có người khác sai. Không sai nên chả việc gì ta phải xin lỗi ai. Nếu cần thì, a lê hấp, gỡ bài xuống! Ai bảo có lỗi à? Đâu, lỗi đâu?
Bệnh 5: Biến kiến thành voi
Triệu chứng:
+ Có ít xít ra nhiều. Vấn đề nhỏ nhưng dùng những từ đao to búa lớn.
+ Phát hiện một sơ hở nhỏ của nhân vật thì túm lấy rồi lu loa lên, đắc thắng, khoái trá, đưa ra những kết luận hàm hồ.
Hình như bác Newton có dạy: "Những điều chúng ta biết chỉ là giọt nước. Những điều chúng ta không biết là cả một dại dương". Báo mắc bệnh "biến kiến thành voi" thường lôi trong ngóc ngách nào đó của đại dương ra một giọt nước rồi hỏi nhân vật có biết không. Nếu không biết thì kết luận ngay nhân vật (là thế này thế nọ mà) không đủ kiến thức về nước. Nếu nhân vật biết thì tiếp tục đưa ra một giọt nước khác để khảo.
Bệnh của báo chí chắc không phải chỉ có thế.
Chú ý (phải to và đỏ chóe lên thế này, không nhiều bác hay quên lắm), xin chú ý cho em nhờ:
1. Đây là “chẩn bệnh” cho nên không cần thiết phải nhắc đến những cái hay, cái tốt của báo chí Việt. Ví dụ, khám thấy thần kinh có vấn đề thì không nhất thiết phải nói với bệnh nhân là lông anh tốt quá.
2. Em có thể có bệnh, có thể không. Nhưng để nói về bệnh của người khác, em không cần phải chứng minh mình không có bệnh. Cũng như khi viết bài về gái mại dâm, không nhất thiết em phải chứng minh rằng mình (tuy nằm cạnh nhưng) không ngủ với gái mại dâm.
3. Blog đã cho thấy tiềm năng giúp người dân giám sát báo chí. Sẽ có một bộ phận các bác làm báo coi sự giám sát đó là gai mắt, đáng ghét, vướng chân. Em không thích bộ phận này. Em hi vọng sẽ có một bộ phận (hoặc nhiều bộ phận càng tốt) báo chí coi sự giám sát đó là một điều có lợi, là cơ hội được nhìn mình bằng mắt người khác, để làm báo cho nghiêm túc hơn, chuyên nghiệp hơn, tôn trọng độc giả hơn.
Giờ thử xem giới blogger chẩn ngược lại, xem bệnh của một bộ phận báo chí Việt thế nào. Những "bệnh" và "triệu chứng" liệt kê dưới đây đã được đề cập lẻ tẻ trong nhiều bài của các blogger khác nhau. Em chỉ sơ sơ gom lại mấy bệnh vặt và diễn đạt lại tí thôi.
Bệnh 1: Đạo đức đầy mình
Triệu chứng:
+ Không nói ra thì không ai biết mình trong ngọc trắng ngà, ngời ngời đạo đức. Viết phóng sự về gái mại dâm thể nào cũng có đoạn cô điếm cởi quần áo, nhưng tôi ngăn lại, cả đêm tôi không làm gì, tôi chỉ nói chuyện với cô, đầy tình thương mến thương… Có bác còn đạo đức đến nỗi khi cô điếm xồ đến thì sợ chạy ra khỏi phòng (ngoài trời kiểu gì cũng có gió lạnh hoặc mưa giăng).
+ Sau khi mô tả kỹ càng các vụ cướp, hiếp, giết, bội tình, đánh ghen… là đến phần (thu hoạch) bài học về đạo đức. Người đọc đôi khi có cảm giác mình như nhỏ lại, trở về thời bé bỏng ấu thơ, được bố xoa đầu ôn tồn bảo ban (nhớ chưa, con không được thế).
Bệnh 2: Thầy thiên hạ
Triệu chứng: Cái gì cũng biết, cái gì cũng thông, vấn đề nào cũng có giải pháp. Phóng viên mới ra trường, chẳng học, đọc, nghiên cứu nghiên kiếc gì, nhưng chỉ ngồi một lúc là có thể nặn ra các giải pháp từ vi mô đến vĩ mô cho mọi vấn đề. Sau giải pháp thường kèm theo câu kết đại loại: Có như vậy mới cải thiện được tình hình, có như vậy giao thông mới hết ùn tắc, mới quản lý được gái mại dâm, kinh tế mới phát triển, giáo dục mới hiệu quả…
Bệnh 3: Chế biến dư luận
Triệu chứng:
+ Khi phản bác ai, phản đối chuyện gì mà lập luận chưa thuyết phục thì mượn mồm dư luận… Dư luận là ý kiến của số đông, nhưng ở đây là ông ba bị. Thích thì cho “dư luận không đồng tình”, thích thì cho “dư luận bức xúc”, không cần biết đấy có phải ý kiến số đông hay không. Ý mình sờ sờ ra nhưng lại bảo đấy là dư luận nói.
+ Chọn lọc (hoặc tạo ra?) ý kiến bạn đọc giống với ý của mình rồi đăng lên, coi đấy là dư luận.
Bệnh 4: Chân lý trong tay ta
(thường đi cùng với bệnh chế biến dư luận)
Triệu chứng: Kiểu gì thì ta cũng vẫn đúng. Không bao giờ có chuyện ta sai, chỉ có người khác sai. Không sai nên chả việc gì ta phải xin lỗi ai. Nếu cần thì, a lê hấp, gỡ bài xuống! Ai bảo có lỗi à? Đâu, lỗi đâu?
Bệnh 5: Biến kiến thành voi
Triệu chứng:
+ Có ít xít ra nhiều. Vấn đề nhỏ nhưng dùng những từ đao to búa lớn.
+ Phát hiện một sơ hở nhỏ của nhân vật thì túm lấy rồi lu loa lên, đắc thắng, khoái trá, đưa ra những kết luận hàm hồ.
Hình như bác Newton có dạy: "Những điều chúng ta biết chỉ là giọt nước. Những điều chúng ta không biết là cả một dại dương". Báo mắc bệnh "biến kiến thành voi" thường lôi trong ngóc ngách nào đó của đại dương ra một giọt nước rồi hỏi nhân vật có biết không. Nếu không biết thì kết luận ngay nhân vật (là thế này thế nọ mà) không đủ kiến thức về nước. Nếu nhân vật biết thì tiếp tục đưa ra một giọt nước khác để khảo.
Bệnh của báo chí chắc không phải chỉ có thế.
Chú ý (phải to và đỏ chóe lên thế này, không nhiều bác hay quên lắm), xin chú ý cho em nhờ:
1. Đây là “chẩn bệnh” cho nên không cần thiết phải nhắc đến những cái hay, cái tốt của báo chí Việt. Ví dụ, khám thấy thần kinh có vấn đề thì không nhất thiết phải nói với bệnh nhân là lông anh tốt quá.
2. Em có thể có bệnh, có thể không. Nhưng để nói về bệnh của người khác, em không cần phải chứng minh mình không có bệnh. Cũng như khi viết bài về gái mại dâm, không nhất thiết em phải chứng minh rằng mình (tuy nằm cạnh nhưng) không ngủ với gái mại dâm.
3. Blog đã cho thấy tiềm năng giúp người dân giám sát báo chí. Sẽ có một bộ phận các bác làm báo coi sự giám sát đó là gai mắt, đáng ghét, vướng chân. Em không thích bộ phận này. Em hi vọng sẽ có một bộ phận (hoặc nhiều bộ phận càng tốt) báo chí coi sự giám sát đó là một điều có lợi, là cơ hội được nhìn mình bằng mắt người khác, để làm báo cho nghiêm túc hơn, chuyên nghiệp hơn, tôn trọng độc giả hơn.
17.11.07
Cám ơn Yahoo! đã bỏ rơi
Yahoo! to thật, nhưng Yahoo! 360 chả là cái đinh gì so với các mạng xã hội khác trên thế giới.
Số người VN ăn nằm với Y360 đông thật, nhưng hình như cũng chưa là cái đinh gì đối với Yahoo!.
Cho nên dù có chú lấy con số 1 triệu người dùng ra để làm le với Yahoo!, thì Yahoo! vẫn chuyển từ bỏ mặc sang bỏ rơi Y360. Mới đầu cả làng tưởng có thể chuyển Y360 sang Y!Mash, nhưng hóa ra Mash lại là một thứ khác hẳn và không phải dành những người thích ăn sẵn (phải có tí trình độ về web mới vọc được nó).
Có vẻ Y360 sắp toi rồi, chỉ chưa kèn trống gì thôi, và việc chuyển Y360 đi đâu đang là một vấn đề nan giải. Mặc dù gần đây có người lấp lửng là sẽ chuyển Y360 sang một dịch vụ phổ biến của Yahoo!, nhưng theo bác Quang Web 2.0 Việt Nam nhận định thì Yahoo đang lúng túng vì "Nếu tích hợp và Mash thì module blog sẽ trở thành môt ứng dụng quá lớn và vượt ra ngoài phạm vi cùa Mash. Nếu đưa vào KickStart thì vô hình chung lại tạo ra một Y!360 mới".
Thế thì bà con dùng Y360 nên nghĩ đến việc dọn nhà đi là vừa. Trên mạng thiếu gì cái hay cái tốt mà cứ phải ôm lấy một thứ đã kém thì chớ, lại còn bị nhà cung cấp bỏ rơi. Dùng cái khác rồi, có khi lại thấy thích, thấy té ra không phải cứ blog thì là Y360. Nếu như thế thì phải cám ơn Yahoo! đã bỏ rơi.
Để chọn cho mình một mạng xã hội hoặc một dịch vụ blog phù hợp, nên tham khảo bài này của bác TanNg. Tiện thể đọc thêm bài này cũng rất hay về core value của các mạng xã hội.
Darren Rowse (một người mà Wikipedia giới thiệu là “a full-time blogger”), có lần hỏi bạn đọc của mình xem họ thích blogging platform nào. Các comment trả lời phần lớn là chọn Wordpress, tiếp đến là Blogger, sau đó là Movable Type rồi đến TypePad và một vài thứ khác.
Wodpress thì có loại miễn phí và loại có phí. Có phí thì khỏi chê rồi, nhưng món miễn phí tôi đã thử thấy cũng rất sướng: Nhiều plugin, nhiều template đẹp, hỗ trợ tiếng Việt, có khả năng liên kết cộng đồng khá tốt nên dễ có nhiều người đọc (tất nhiên không thể so sánh với các mạng xã hội như MySpace, Facebook hay ngay cả Y360, vì Wordpress là một blogging platform chuyên nghiệp). Dở cái là Wordpress cho lưu file hơi ít (viết thì thoải mái), và không chỉnh sửa được template.
New Blogger của Google theo tôi cũng rất tốt, dễ sử dụng và nhiều chức năng, nếu biết về HTML thì có thể tự chỉnh sửa template được, nếu không biết thì tìm trên mạng cũng đầy. Có điều Blogger hơi yếu về khả năng liên kết người dùng thành cộng đồng, và tên miền (blogspot) thì bị VDC chặn (dùng đường truyền của VNN không đọc được). Có thể khắc phục chuyện này bằng cách đăng ký một tên miền riêng (khoảng 7-10$/năm gì đó) và "lái" tên miền blogspot sang đó. Cho sử dụng tên miền riêng, không cần phải host hiếc gì, cũng là một ưu điểm của Blogger.
Không hiểu tại sao và từ bao giờ VNN chặn Blogger. Và tại sao chỉ chặn Blogger chứ không chặn Y360 hay Wordpress? Dù sao chơi cái kiểu ngăn sông cấm chợ thế cũng là không đẹp.
Ở Việt Nam giờ cũng có nhiều dịch vụ blog. Mới đây có Sky.vn, sử dụng mã nguồn mở của Wordpress, trông qua giao diện cũng hay hay, mà cho lưu file được nhiều hơn (hình như gấp 10 lần).
Nhưng tôi không chắc liệu các dịch vụ của VN có tồn tại được lâu hay không. Hồi Yahoo! Mail mới có 4MB bọ, công ty Nhân Hòa nhà ta đã cung cấp miễn phí hộp thư vnws lên đến 50MB, hỗ trợ POP3 hẳn hoi. Nhưng chỉ được mấy năm thì dịch vụ mail của Nhân Hòa tịt.
Số người VN ăn nằm với Y360 đông thật, nhưng hình như cũng chưa là cái đinh gì đối với Yahoo!.
Cho nên dù có chú lấy con số 1 triệu người dùng ra để làm le với Yahoo!, thì Yahoo! vẫn chuyển từ bỏ mặc sang bỏ rơi Y360. Mới đầu cả làng tưởng có thể chuyển Y360 sang Y!Mash, nhưng hóa ra Mash lại là một thứ khác hẳn và không phải dành những người thích ăn sẵn (phải có tí trình độ về web mới vọc được nó).
Có vẻ Y360 sắp toi rồi, chỉ chưa kèn trống gì thôi, và việc chuyển Y360 đi đâu đang là một vấn đề nan giải. Mặc dù gần đây có người lấp lửng là sẽ chuyển Y360 sang một dịch vụ phổ biến của Yahoo!, nhưng theo bác Quang Web 2.0 Việt Nam nhận định thì Yahoo đang lúng túng vì "Nếu tích hợp và Mash thì module blog sẽ trở thành môt ứng dụng quá lớn và vượt ra ngoài phạm vi cùa Mash. Nếu đưa vào KickStart thì vô hình chung lại tạo ra một Y!360 mới".
Thế thì bà con dùng Y360 nên nghĩ đến việc dọn nhà đi là vừa. Trên mạng thiếu gì cái hay cái tốt mà cứ phải ôm lấy một thứ đã kém thì chớ, lại còn bị nhà cung cấp bỏ rơi. Dùng cái khác rồi, có khi lại thấy thích, thấy té ra không phải cứ blog thì là Y360. Nếu như thế thì phải cám ơn Yahoo! đã bỏ rơi.
Để chọn cho mình một mạng xã hội hoặc một dịch vụ blog phù hợp, nên tham khảo bài này của bác TanNg. Tiện thể đọc thêm bài này cũng rất hay về core value của các mạng xã hội.
Darren Rowse (một người mà Wikipedia giới thiệu là “a full-time blogger”), có lần hỏi bạn đọc của mình xem họ thích blogging platform nào. Các comment trả lời phần lớn là chọn Wordpress, tiếp đến là Blogger, sau đó là Movable Type rồi đến TypePad và một vài thứ khác.
Wodpress thì có loại miễn phí và loại có phí. Có phí thì khỏi chê rồi, nhưng món miễn phí tôi đã thử thấy cũng rất sướng: Nhiều plugin, nhiều template đẹp, hỗ trợ tiếng Việt, có khả năng liên kết cộng đồng khá tốt nên dễ có nhiều người đọc (tất nhiên không thể so sánh với các mạng xã hội như MySpace, Facebook hay ngay cả Y360, vì Wordpress là một blogging platform chuyên nghiệp). Dở cái là Wordpress cho lưu file hơi ít (viết thì thoải mái), và không chỉnh sửa được template.
New Blogger của Google theo tôi cũng rất tốt, dễ sử dụng và nhiều chức năng, nếu biết về HTML thì có thể tự chỉnh sửa template được, nếu không biết thì tìm trên mạng cũng đầy. Có điều Blogger hơi yếu về khả năng liên kết người dùng thành cộng đồng, và tên miền (blogspot) thì bị VDC chặn (dùng đường truyền của VNN không đọc được). Có thể khắc phục chuyện này bằng cách đăng ký một tên miền riêng (khoảng 7-10$/năm gì đó) và "lái" tên miền blogspot sang đó. Cho sử dụng tên miền riêng, không cần phải host hiếc gì, cũng là một ưu điểm của Blogger.
Không hiểu tại sao và từ bao giờ VNN chặn Blogger. Và tại sao chỉ chặn Blogger chứ không chặn Y360 hay Wordpress? Dù sao chơi cái kiểu ngăn sông cấm chợ thế cũng là không đẹp.
Ở Việt Nam giờ cũng có nhiều dịch vụ blog. Mới đây có Sky.vn, sử dụng mã nguồn mở của Wordpress, trông qua giao diện cũng hay hay, mà cho lưu file được nhiều hơn (hình như gấp 10 lần).
Nhưng tôi không chắc liệu các dịch vụ của VN có tồn tại được lâu hay không. Hồi Yahoo! Mail mới có 4MB bọ, công ty Nhân Hòa nhà ta đã cung cấp miễn phí hộp thư vnws lên đến 50MB, hỗ trợ POP3 hẳn hoi. Nhưng chỉ được mấy năm thì dịch vụ mail của Nhân Hòa tịt.
14.11.07
Đến lượt Wall Street Journal miễn phí
Digg thông báo:
Trước đó, đại gia Murdoch cũng bảo sẽ cho truy cập WTJ miễn phí để đổi phí đọc báo lấy thêm lợi nhuận từ quảng cáo. Hồi tháng 8, New York Times đã cho miễn phí đọc báo trên mạng, nhưng mở hẳn luôn chứ không kết hợp với digg điếc nào cả.
Có vẻ như Murdoch sắp mua Digg?
Theo NYT, nội bộ WTJ chưa thống nhất với nhau về việc miễn phí hoàn toàn (với mọi đối tượng) các nội dung trực tuyến:
"The Wall Street Journal Online is adding Digg buttons across the entire site, and you’ll now have full (free) access to the articles submitted to Digg. The Digg buttons have started appearing on WSJ.com articles tonight".Như vậy, người dùng mạng có thể đọc miễn phí WTJ qua Digg, và có thể comment về các bài báo của WTJ trên Digg. Đây là một ví dụ tiêu biểu về sự kết hợp giữa truyền thông đại chúng với truyền thông cá nhân.
Trước đó, đại gia Murdoch cũng bảo sẽ cho truy cập WTJ miễn phí để đổi phí đọc báo lấy thêm lợi nhuận từ quảng cáo. Hồi tháng 8, New York Times đã cho miễn phí đọc báo trên mạng, nhưng mở hẳn luôn chứ không kết hợp với digg điếc nào cả.
Có vẻ như Murdoch sắp mua Digg?
Theo NYT, nội bộ WTJ chưa thống nhất với nhau về việc miễn phí hoàn toàn (với mọi đối tượng) các nội dung trực tuyến:
“There are a lot of pros and cons,” he said then, including the possibility that a free Journal site could harm other Dow Jones businesses".--
Chuyên mục:
Thương mại điện tử,
Truyền thông cá nhân,
Truyền thông đại chúng
13.11.07
Internet lại mắc tội
Viết về vụ những vụ lừa đảo kiểu của Colony Invest, nhiều bác tranh thủ kể tội Internet, cứ như thể Internet là thứ 3 đầu sáu tay, có thể vươn đến những vùng sâu vùng xa móc túi bà con. Ví dụ bác này viết: “Tận các xóm nghèo ở Bắc Ninh, Đồng Tháp, Lạng Sơn, Đồng Nai, Tiền Giang, những nông dân nghèo khó cũng bị... mạng lừa!”.
Viết như thế chả hóa ra Internet Việt Nam đã phát triển đến độ ngay cả những nông dân nghèo khó ở những vùng xa xôi ấy cũng ngày ngày lên mạng đầu tư tài chính, để đến nỗi bị lừa?
Chả phải. Với cái kiểu lừa này, càng chỗ nào Internet phát triển , con người khôn ngoan (như ở Âu ở Mỹ hay các thành phố ở VN) thì nạn nhân của nó càng ít. Chỗ nào Internet chưa phát triển, như các vùng nông thôn, thì số người mắc lừa mới nhiều. Cho nên, điều cần làm trong trường hợp này là thúc Internet phát triển nhanh chứ không phải là lại nghĩ cách “quản lý” nó.
Còn để tránh bị lừa lại là chuyện khác. Để các bà các mệ không chút kiến thức về đầu tư tài chính bị cuốn vào những đường dây lừa đảo này không phải là tội của Internet (khổ quá, toàn vấn đề của con người mà sao cứ hở ra là đổ cho Internet thôi). Trước những sự việc hiện tượng như thế, cơ bản là người dân phải có chỗ tin cậy mà hỏi, dễ gần mà hỏi. Dân chả buồn hỏi hay chả biết chỗ nào mà hỏi thì chính quyền với các tổ chức đoàn thể này nọ phải nghĩ.
Viết như thế chả hóa ra Internet Việt Nam đã phát triển đến độ ngay cả những nông dân nghèo khó ở những vùng xa xôi ấy cũng ngày ngày lên mạng đầu tư tài chính, để đến nỗi bị lừa?
Chả phải. Với cái kiểu lừa này, càng chỗ nào Internet phát triển , con người khôn ngoan (như ở Âu ở Mỹ hay các thành phố ở VN) thì nạn nhân của nó càng ít. Chỗ nào Internet chưa phát triển, như các vùng nông thôn, thì số người mắc lừa mới nhiều. Cho nên, điều cần làm trong trường hợp này là thúc Internet phát triển nhanh chứ không phải là lại nghĩ cách “quản lý” nó.
Còn để tránh bị lừa lại là chuyện khác. Để các bà các mệ không chút kiến thức về đầu tư tài chính bị cuốn vào những đường dây lừa đảo này không phải là tội của Internet (khổ quá, toàn vấn đề của con người mà sao cứ hở ra là đổ cho Internet thôi). Trước những sự việc hiện tượng như thế, cơ bản là người dân phải có chỗ tin cậy mà hỏi, dễ gần mà hỏi. Dân chả buồn hỏi hay chả biết chỗ nào mà hỏi thì chính quyền với các tổ chức đoàn thể này nọ phải nghĩ.
8.11.07
Cốt lõi là cải cách hành chính
(Bài tổng kết diễn đàn "Hướng tới chính phủ điện tử" trên tạp chí PC World series B, tháng 11/2007)
--
Thông tin là chủ thể
“Công nghệ chỉ là công cụ. Chủ thể là thông tin chứ không phải công nghệ” - TS Nguyễn Chí Công (tổ trưởng tổ chuyên môn BĐH ĐA 112) nhiều lần nhấn mạnh như vậy trong một buổi trò chuyện với tư cách cá nhân với các phóng viên hồi tháng 5/2007. Quan niệm như thế, nên TS Nguyễn Chí Công không đồng ý với tư tưởng phần mềm dùng chung (PMDC). Theo ông, “không có PM dùng chung mà chỉ có dữ liệu dùng chung”. Phần mềm thế nào không cần biết, miễn là “khi dữ liệu của ngành A chuyển sang cho ngành B thì máy tính của ngành B vẫn đọc được”.
TS Nguyễn Quang A cũng cho rằng “Việc dùng công nghệ nào, thiết bị nào, máy nào không phải là vấn đề quan trọng”. Quan trọng là tính nhất quán của dữ liệu phải được bảo đảm, và “các hệ thống con phải giao tiếp được với nhau”. Còn theo TS Nguyễn Ái Việt, phó chánh văn phòng Ban Chỉ Đạo Quốc Gia Về CNTT, những yếu tố như kiến trúc CNTT, các ứng dụng, dịch vụ công... đều “phải xoay quanh việc tạo ra thông tin, chứ không phải là vấn đề kỹ thuật”.
Tuy nhiên, muốn thông tin trao đổi được với nhau, phải có những điều kiện kỹ thuật, công nghệ nhất định. Ông Nguyễn Ái Việt nhấn mạnh việc xây dựng kiến trúc, hạ tầng, cơ sở dữ liệu quốc gia, nguồn lực..., trong đó “kiến trúc CNTT quốc gia đặc biệt quan trọng”. TS Mai Anh, nguyên ủy viên ủy ban Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội thì chú ý tới việc xây dựng các chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử, định mức chi tiêu cho các dự án CNTT, hệ thống CSDL liên ngành đồng bộ “để người dân có thể đi một cửa thực sự”, và các hệ thống thông tin nghiệp vụ quốc gia phục vụ hoạt động điều hành.
Đó là những điều kiện cần. Cốt lõi nhất của dự án CPĐT, theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, “vẫn là cải cách hành chính” (CCHC).
Ai cải cách hành chính?
Quan điểm của TS Nguyễn Quang A được nhiều người đồng tình. Nhưng vấn đề cần trả lời rõ là: Ai là người đứng đầu làm cái điều cốt lõi đó? CNTT không phải là yếu tố quyết định trong CCHC. Ngành CNTT không thể đơn phương cải cách hệ thống hành chính. Thực ra CNTT cũng có tác động tới hành chính, nhưng chỉ tạo ra những thay đổi ở một mức độ nhất định. Nếu không có sự tương tác chủ động và tích cực từ phía hành chính, quá trình tin học hóa sẽ rất tốn thời gian và lãng phí, như chúng ta đã chứng kiến. Nếu một đề án (ĐA) tin học hóa bị chặn lại trước bức tường hành chính bảo thủ, các hiện tượng tiêu cực sẽ có dịp phát tác; những người làm CNTT nghiêm túc dễ sinh tâm lý chán nản, phải đối phó với sức ép dư luận và ngại gánh vác vai trò đầu tàu chỉ đạo hoặc triển khai.
Trở lại với câu hỏi “Ai là người đứng đầu một chương trình CPĐT”, câu trả lời TS Nguyễn Quang A là người đứng đầu hệ thống hành chính, tức Thủ Tướng. TS Quang A cho biết: “Tôi đã nghiên cứu các ĐA CNTT từ nhiều năm nay, ĐA nào người đứng đầu không phải là người chủ trì thì đều thất bại”. Có lẽ cần nói rõ hơn: Một chương trình CPĐT không phải là một chương trình về CNTT mà là một chương trình CCHC sử dụng CNTT làm công cụ. Nhìn theo hướng này, sẽ thấy rõ vai trò của người đứng đầu hệ thống hành chính rất quan trọng; và đúng là sai lầm nếu thiết kế, thực hiện các ĐA, dự án CNTT một cách độc lập. Theo TS Nguyễn Chí Công, kể cả cách gọi “đề án CNTT” cũng không nên dùng nữa, vì mục đích của ĐA là CCHC chứ không phải CNTT.
Cải cách như thế nào?
TS Nguyễn Chí Công khẳng định: “Muốn tin học hóa hành chính phải có mô hình”, trong đó định nghĩa tương quan giữa các cơ quan, công dân, doanh nghiệp (rồi mới xây dựng phần mềm PM, hệ thống thông tin). Mô hình TS Công giới thiệu mô hình “one stop” của phương Tây (có lẽ gần giống với cơ chế “một cửa liên thông” trong quyết định 93/2007/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ), theo đó, người dân chỉ việc đến một nơi để đưa yêu cầu, sau đó quy trình giải quyết như thế nào là việc của các cơ quan công quyền, dù yêu cầu đó có thể liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau. Nói cách khác, nội bộ các cơ quan phải thông suốt với nhau, phải thoả thuận được luồng công việc (work flow), định nghĩa được quy trình và thời hạn giải quyết.
Để làm được điều này, có lẽ hệ thống hành chính phải chấp nhận bớt đi một số nét đặc thù và phải mạnh dạn tước bỏ đặc quyền không chính đáng của nhiều cán bộ, công chức. Nếu không CCHC mạnh mẽ, sẽ không có CPĐT.
Điểm tựa
Theo TS Nguyễn Thành Phúc, phó viện trưởng viện Chiến Lược BCVT và CNTT, chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010 do bộ Thông Tin và Truyền Thông soạn thảo đã quy định người đứng đầu các cơ quan (vốn trực tiếp chịu trách nhiệm về CCHC) phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụng CNTT. Với quy định này, việc gắn kết giữa CCHC và CNTT sẽ đồng bộ hơn. Theo ông Phúc, “nếu người đứng đầu thực sự trách nhiệm, chủ động thì những khó khăn “muôn thuở” như thiếu vốn, không đồng bộ với cải cách hành chính (CCHC)... sẽ được giải quyết và cả lực lượng chuyên về CNTT cũng sẽ được tăng cường”.
Đây là một hướng tư duy mới. Tuy nhiên, trách nhiệm cụ thể của những người đứng đầu các cơ quan như thế nào, nếu ứng dụng CNTT yếu kém sẽ bị xử lý ra sao... hình như chưa thật rõ ràng. Sự tự giác không phải là một điểm tựa chắc chắn. Nó khác nhau giữa người này người khác, nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Vì thế, cần có thêm những sợi dây ràng buộc trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý đối với những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, trong việc ứng dụng CNTT tại cơ quan, tổ chức đó.
--
Thông tin là chủ thể
“Công nghệ chỉ là công cụ. Chủ thể là thông tin chứ không phải công nghệ” - TS Nguyễn Chí Công (tổ trưởng tổ chuyên môn BĐH ĐA 112) nhiều lần nhấn mạnh như vậy trong một buổi trò chuyện với tư cách cá nhân với các phóng viên hồi tháng 5/2007. Quan niệm như thế, nên TS Nguyễn Chí Công không đồng ý với tư tưởng phần mềm dùng chung (PMDC). Theo ông, “không có PM dùng chung mà chỉ có dữ liệu dùng chung”. Phần mềm thế nào không cần biết, miễn là “khi dữ liệu của ngành A chuyển sang cho ngành B thì máy tính của ngành B vẫn đọc được”.
TS Nguyễn Quang A cũng cho rằng “Việc dùng công nghệ nào, thiết bị nào, máy nào không phải là vấn đề quan trọng”. Quan trọng là tính nhất quán của dữ liệu phải được bảo đảm, và “các hệ thống con phải giao tiếp được với nhau”. Còn theo TS Nguyễn Ái Việt, phó chánh văn phòng Ban Chỉ Đạo Quốc Gia Về CNTT, những yếu tố như kiến trúc CNTT, các ứng dụng, dịch vụ công... đều “phải xoay quanh việc tạo ra thông tin, chứ không phải là vấn đề kỹ thuật”.
Tuy nhiên, muốn thông tin trao đổi được với nhau, phải có những điều kiện kỹ thuật, công nghệ nhất định. Ông Nguyễn Ái Việt nhấn mạnh việc xây dựng kiến trúc, hạ tầng, cơ sở dữ liệu quốc gia, nguồn lực..., trong đó “kiến trúc CNTT quốc gia đặc biệt quan trọng”. TS Mai Anh, nguyên ủy viên ủy ban Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội thì chú ý tới việc xây dựng các chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử, định mức chi tiêu cho các dự án CNTT, hệ thống CSDL liên ngành đồng bộ “để người dân có thể đi một cửa thực sự”, và các hệ thống thông tin nghiệp vụ quốc gia phục vụ hoạt động điều hành.
Đó là những điều kiện cần. Cốt lõi nhất của dự án CPĐT, theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, “vẫn là cải cách hành chính” (CCHC).
Ai cải cách hành chính?
Quan điểm của TS Nguyễn Quang A được nhiều người đồng tình. Nhưng vấn đề cần trả lời rõ là: Ai là người đứng đầu làm cái điều cốt lõi đó? CNTT không phải là yếu tố quyết định trong CCHC. Ngành CNTT không thể đơn phương cải cách hệ thống hành chính. Thực ra CNTT cũng có tác động tới hành chính, nhưng chỉ tạo ra những thay đổi ở một mức độ nhất định. Nếu không có sự tương tác chủ động và tích cực từ phía hành chính, quá trình tin học hóa sẽ rất tốn thời gian và lãng phí, như chúng ta đã chứng kiến. Nếu một đề án (ĐA) tin học hóa bị chặn lại trước bức tường hành chính bảo thủ, các hiện tượng tiêu cực sẽ có dịp phát tác; những người làm CNTT nghiêm túc dễ sinh tâm lý chán nản, phải đối phó với sức ép dư luận và ngại gánh vác vai trò đầu tàu chỉ đạo hoặc triển khai.
Trở lại với câu hỏi “Ai là người đứng đầu một chương trình CPĐT”, câu trả lời TS Nguyễn Quang A là người đứng đầu hệ thống hành chính, tức Thủ Tướng. TS Quang A cho biết: “Tôi đã nghiên cứu các ĐA CNTT từ nhiều năm nay, ĐA nào người đứng đầu không phải là người chủ trì thì đều thất bại”. Có lẽ cần nói rõ hơn: Một chương trình CPĐT không phải là một chương trình về CNTT mà là một chương trình CCHC sử dụng CNTT làm công cụ. Nhìn theo hướng này, sẽ thấy rõ vai trò của người đứng đầu hệ thống hành chính rất quan trọng; và đúng là sai lầm nếu thiết kế, thực hiện các ĐA, dự án CNTT một cách độc lập. Theo TS Nguyễn Chí Công, kể cả cách gọi “đề án CNTT” cũng không nên dùng nữa, vì mục đích của ĐA là CCHC chứ không phải CNTT.
Cải cách như thế nào?
TS Nguyễn Chí Công khẳng định: “Muốn tin học hóa hành chính phải có mô hình”, trong đó định nghĩa tương quan giữa các cơ quan, công dân, doanh nghiệp (rồi mới xây dựng phần mềm PM, hệ thống thông tin). Mô hình TS Công giới thiệu mô hình “one stop” của phương Tây (có lẽ gần giống với cơ chế “một cửa liên thông” trong quyết định 93/2007/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ), theo đó, người dân chỉ việc đến một nơi để đưa yêu cầu, sau đó quy trình giải quyết như thế nào là việc của các cơ quan công quyền, dù yêu cầu đó có thể liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau. Nói cách khác, nội bộ các cơ quan phải thông suốt với nhau, phải thoả thuận được luồng công việc (work flow), định nghĩa được quy trình và thời hạn giải quyết.
Để làm được điều này, có lẽ hệ thống hành chính phải chấp nhận bớt đi một số nét đặc thù và phải mạnh dạn tước bỏ đặc quyền không chính đáng của nhiều cán bộ, công chức. Nếu không CCHC mạnh mẽ, sẽ không có CPĐT.
Điểm tựa
Theo TS Nguyễn Thành Phúc, phó viện trưởng viện Chiến Lược BCVT và CNTT, chương trình ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010 do bộ Thông Tin và Truyền Thông soạn thảo đã quy định người đứng đầu các cơ quan (vốn trực tiếp chịu trách nhiệm về CCHC) phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụng CNTT. Với quy định này, việc gắn kết giữa CCHC và CNTT sẽ đồng bộ hơn. Theo ông Phúc, “nếu người đứng đầu thực sự trách nhiệm, chủ động thì những khó khăn “muôn thuở” như thiếu vốn, không đồng bộ với cải cách hành chính (CCHC)... sẽ được giải quyết và cả lực lượng chuyên về CNTT cũng sẽ được tăng cường”.
Đây là một hướng tư duy mới. Tuy nhiên, trách nhiệm cụ thể của những người đứng đầu các cơ quan như thế nào, nếu ứng dụng CNTT yếu kém sẽ bị xử lý ra sao... hình như chưa thật rõ ràng. Sự tự giác không phải là một điểm tựa chắc chắn. Nó khác nhau giữa người này người khác, nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Vì thế, cần có thêm những sợi dây ràng buộc trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý đối với những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, trong việc ứng dụng CNTT tại cơ quan, tổ chức đó.
Subscribe to:
Posts (Atom)

